Năm mươi năm im lặng trong ký ức về nạn đói khủng khiếp

Lịch sử khủng khiếp không bao giờ được phép quên

Tranh cổ động thời Đại Nhảy Vọt (Secret China)

Tranh cổ động thời Đại Nhảy Vọt (Secret China)

Là một đứa trẻ lớn lên ở vùng nông thôn Trung Quốc, ông Dali Yang, Phó giáo sư Khoa học Chính trị, đã từng nghe những câu chuyện do cha mẹ ông và những người khác kể về sự khủng khiếp của Đại nhảy vọt, một thời kỳ đau khổ của Trung Quốc đến không lâu sau cuộc cách mạng cộng sản năm 1949.

“Cha mẹ tôi là nông dân làm việc trên cánh đồng. Chúng tôi trồng lúa mỳ ở nơi chúng tôi sống, và họ cũng tham gia vào đội sản xuất”, lời ông Yang, người sinh năm 1964, ba năm sau khi Đại nhảy vọt kết thúc. “Họ thường mang chủ đề nạn đói trong Đại nhảy vọt và nói về mọi thứ tồi tệ như thế nào vào thời ấy.”

Sự tò mò của ông Yang về thời kỳ này đã khiến ông viết cuốn sách ‘Thảm họa và cải cách tại Trung Quốc: Nhà nước, xã hội nông thôn và thay đổi tổ chức kể từ nạn đói Đại nhảy vọt’, sẽ được xuất bản mùa xuân này bởi Nhà xuất bản Đại học Stanford. Cuốn sách là một trong những tác phẩm lớn đầu tiên phân tích về thời kỳ này, liên hệ giữa Đại nhảy vọt và nạn đói theo sau mà vẫn còn ảnh hưởng đến Trung Quốc ngày nay.

Xã hội nông thôn đã đã phải theo kịp giấc mơ bằng cách sản xuất đủ lương thực nuôi sống cả nước, cộng với đủ xuất khẩu để giúp chi trả cho việc công nghiệp hóa. Như một kết quả của cuộc cách mạng cộng sản, những người sở hữu đất đai (địa chủ – dịch giả) đã bị lột mất tài sản, và đến năm 1957, nông dân đã bị buộc phải làm việc trong các hợp tác xã nông nghiệp.

Những biến đổi này được chủ định để cải thiện điều kiện sống cho mọi người bằng cách tập thể hóa nông nghiệp và thiết lập các nhà ăn công cộng, nơi những người nông dân có thể ăn bất cứ thứ gì họ muốn mà không phải trả tiền. Giấc mơ không tưởng này đã trở thành một cơn ác mộng khi giới lãnh đạo trung ương ngày càng xa rời thực tế, ông Yang đã phát hiện qua nghiên cứu của mình về các tài liệu lưu trữ của chính phủ và lời kể của các cá nhân.

Vào thời kỳ đầu của Đại nhảy vọt, Mao Trạch Đông tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ vượt Anh quốc trong sản xuất thép và các sản phẩm khác trong vòng 15 năm. Những người lãnh đạo Trung Quốc khác, gồm cả Đặng Tiểu Bình, đã ủng hộ sự nhiệt tình của Mao Trạch Đông, theo những tài liệu mà ông Yang đã nghiên cứu ở Trung Quốc.

Nhưng theo cách nghĩ của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), được nuôi dưỡng bởi nỗi sợ hãi và bệnh hoang tưởng, 50 năm sau báo chí Trung quốc vẫn bị cấm viết về thời kỳ này trong lịch sử Trung Quốc.

Chiến dịch Đại nhảy vọt năm 1959 đã chứng kiến một chuỗi các chính sách hão huyền như “đạt sản lượng ngũ cốc 75.000 kg trên một héc-ta”, “tăng gấp đôi sản lượng thép”, và “vượt Anh quốc trong vòng 10 năm và Mỹ trong vòng 15 năm”. Sản lượng ngô hiện tại của Mỹ mới chỉ dao động trong khoảng 4.000 kg trên một héc-ta.

Tranh cổ động: ‘Nông nghiệp cần một bước đại nhảy vọt. Làng làng cần một vụ mùa bội thu’ (Secret China).

Tranh cổ động: ‘Nông nghiệp cần một bước đại nhảy vọt. Làng làng cần một vụ mùa bội thu’ (Secret China).

Chiến dịch này yêu cầu mỗi người dân Trung Quốc phải tham gia vào sản xuất thép, buộc những người nông dân phải rời bỏ hoa màu. Nhưng một số báo cáo mà tôi đã đọc nói rằng những người nông dân đã bị buộc phải nấu chảy bất cứ loại kim loại nào trong các “lò nung” gia công thô sơ, dẫn tới việc sản phẩm thép kém phẩm chất thu được đã khiến nhiều công trình kiến trúc bị sập. Các chính sách kỳ quặc của ĐCSTQ cuối cùng đã dẫn đến cái chết của hàng triệu người Trung Quốc vô tội – con số là khó xác định chính xác, vì chúng ta không thể tin vào những thống kê được ĐCSTQ công bố. Một nghiên cứu mới đây của một giáo sư nhân khẩu học người Mỹ đã đưa ra con số người chết lên đến 80 triệu, con số có được từ việc nghiên cứu các số liệu dân số tại Trung Quốc đại lục. Sau thảm họa này, lời giải thích chính thức được gọi là “ba năm thiên tai”. Nhưng thông tin đã bị phong tỏa, và dân quân đã đi tuần tra 24 giờ mỗi ngày, bảy ngày một tuần, để ngăn cản người dân đi xin ăn. Bất cứ ai đi xin ăn đều bị tố cáo. Dân làng là những người phải chịu đựng nhiều nhất – các làng mạc ở vùng Xinyang đã bị tiêu hao nhiều vì mọi người di cư ra thành thị.

Ông XXX, một người ở huyện Xie, tỉnh Sơn Tây, hiện là giáo viên ở một thành phố, đã kể câu chuyện này: “Nhiều ngôi làng nhỏ đã bị quét sạch, nơi cả gia đình người nông dân đều bị chết đói. Người ta ăn bất cứ thứ gì. Gia đình nào cũng có người chết. Thi thể ở khắp mọi nơi. Cuối cùng, mọi người đã phải ăn thịt người, bao gồm cả những người còn sống và người thân.” Khi cái đói làm cho những người nông dân phải ăn cắp ngũ cốc ở các kho lương thực, ĐCSTQ đã ra lệnh cho dân quân bắn vào những con người bất hạnh này để giải tán đám đông, để ngăn cản việc cướp của, và dán nhãn cho những người bị bắn chết là “phần tử phản cách mạng”. Vô số người đã bị chết đói ở các tỉnh: Cam Túc, Sơn Đông, Hà Nam, An Huy, Hồ Bắc, Hồ Nam, Tứ Xuyên và Quảng Tây.

ĐCSTQ còn bắt những nông dân bị đói tham gia làm thủy lợi, xây đập, và sản xuất thép. Nhiều người đã ngã xuống đất khi đang làm việc và không bao giờ đứng dậy nữa, và những người sống sót cũng không còn đủ sức để chôn những người đã chết.

Vùng Xinyang, tỉnh Hà Nam đã chứng kiến hơn 1 triệu người chết chỉ trong vòng có 3 tháng. Sự kiện Xinyang vẫn còn là một chủ đề nhạy cảm, và như dự đoán, việc đưa những tin này trên các phương tiện truyền thông vẫn bị cấm tại Trung Quốc. Mặc dù Nạn đói khủng khiếp dường như không để lại dấu tích nào ở vùng Xinyang, các nông dân địa phương nói rằng họ vẫn đào lên được những bộ xương người.

(Theo Secret China)

Đọc bản gốc tiếng Anh tại đây.

  • Share/Bookmark
Chuyên mục: Nhân quyền
;

Bình luận trên facebook

Bình luận
Lời bình của bạn
Mã xác nhận trong hình vẽ dưới đây là gì?